Lịch sử là một sự dối trá mà không ai phủ nhận (Napoleon đệ nhất)

Vietnamese     Francais
  Số người truy cập:
  Tổng số: 02367613
  Đang xem: 152
CHÍNH TRỊ - LỊCH SỬ - TƯ TƯỞNG
Nguồn gốc chiến tranh từ xã hội hoang dã đến khi hình thành quốc gia

Bên cạnh suy luận triết học, những dữ kiện thực tế  cho thấy sự thường trực của tình trạng chiến tranh trong các cộng đồng hoang dã 

Bên cạnh suy luận triết học, những dữ kiện thực tế thu lượm được từ khi người Tây Phương tiếp xúc với các cộng đồng người hoang dã, bắt đầu ở Mỹ Châu, rồi đến các lục địa khác, cho thấy sự thường trực của tình trạng chiến tranh trong các cộng đồng hoang dã   này, trừ vài ngoại lệ (người Eskimo ở miền trung và miền đông Bắc cực) (1). Nghiên cứu « thực địa » cũng cho biết chiến tranh không đến từ bản chất tự nhiên, "gần với súc vật", của người hoang dã, hay từ sự khan hiếm tài nguyên buộc phải tranh chiếm, dành dựt.

Tính súc vật trong bạo lực:

Phải chăng con người, cũng như súc vật, mang khuynh hướng giết để ăn, và chỉ nối dài khuynh hướng ấy trong chiến tranh? Người ta có thể bác bỏ quan điểm này trước sự kiện không có dấu vết nào cho thấy người hoang dã ăn thịt đối thủ của mình một cách quy mô sau các trận chiến, ngoại trừ vài hành vi có tính nghi thức, đôi khi còn để lại dấu vết trong văn chương rất lâu về sau ("căm tức chưa xẻ thịt, lột da, ăn gan uống máu quân thù" - Trần Quốc Tuấn - Hịch Tướng Sĩ - thế kỷ 13). Cũng không có chứng cớ nào cho thấy các bộ tộc ăn thịt người phát động chiến tranh chỉ vì... đói thịt! 

Mặt khác, sự kiện giết để ăn hiện hữu một cách rộng rãi trong thiên nhiên, nơi vô số loài giống, nhưng trong mọi trường hợp, hành vi ấy không hàm chứa thù hận. Ngược lại, thù hận là một yếu tố vô cùng phổ quát trong chiến tranh ("Niệm thế thù khởi khả cộng đái" - Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi - Thế kỷ 15).
 
Vì những lý do ấy, chiến tranh phải được coi như một hiện tượng xã hội, chứ không phải sự nối dài của vật tính tự nhiên.

Lý do kinh tế?

Mặt khác, chiến tranh phải chăng chỉ là phương tiện mưu sinh trong bối cảnh thiếu thốn thường được gắn liền với các cộng đồng người hoang dã? Có đúng là sự khan hiếm phương tiện sinh tồn đã khiến các cộng đồng này phải sử dụng bạo lực để tranh dành, chiếm hữu hay bảo vệ những gì họ thủ giữ? Bên cạnh M. Davie (12), người ta có thể trích dẫn D.R.Gross (2) và M.Harris (3) như những nhà nhân chủng học đề nghị quan điểm này.

Tuy nhiên các khảo cứu của Sahlins (4) và Lizot (5), xác nhận quan sát của nhiều nhà thám hiểm trước đó, khi chỉ ra sự phồn vinh của các cộng đồng người hoang dã. Thật vậy thay vì kiệt quệ trong việc làm, sinh hoạt kinh tế của người hoang dã hoàn toàn đồng nhịp với nhu cầu của mỗi người, khiến họ dư thừa thời gian rảnh rỗi. Tài nguyên thiên nhiên quanh họ cũng được hình dung như dồi dào đối với nhân số và cách sống, ngoại trừ trong vài trường hợp như thay đổi khí hậu đột ngột, hạn hán, lũ lụt v.v... 

Vậy, kinh tế cũng không phải là động cơ chủ yếu và thường tình của chiến tranh nơi người hoang dã. 

Chiến tranh như thất bại của đổi chác?

Claude Lévy Strauss viết: " Trao đổi là chiến tranh được giải quyết một cách ôn hóa, chiến tranh là những trao đổi vấp phải thất bại" (6). Biết rằng người hoang dã sống trong một môi trương dư giả, Lévy Strauss nhấn mạnh: "đó là những món quà, những đổi chác nằm ngoài giao dịch thương mại". Thật vậy, vì có tài nguyên dồi dào, các cộng đồng hoang dã mang khuynh hướng đạt đến một tình trạng tự túc, tự mình sản xuất tất cả những gì cần thiết (Sahlins - đã dẫn). Giao dịch thương mại, vì thế, không phải là một nhu cầu đối với họ. 

Quan điểm của Lévy Strauss coi chiến tranh như một biến cố ngoại lệ, trước những đổi chác được hình dung như thông lệ. Tuy nhiên, điều ấy có vẻ không phù hợp với những quan sát thực tế, theo đó chiến tranh là một sinh hoạt thường trực của các cộng đồng người hoang dã. Vì vậy có nhiều khả năng chiến tranh và đổi chác ở thời hoang dã là hai sự kiện độc lập.

Khuynh hướng phân tán:

Một đặc điểm của các cộng đồng người hoang dã là khoảng cách giữa họ với nhau. Pierre Clastres (7) cho rằng điều ấy liên hệ chặt chẽ với tình trạng chiến tranh thường trực. Thật vậy, người hoang dã mang ý thức thuộc về cộng đồng của họ một cách tuyệt đối. Mỗi cộng đồng thì lại rất gắn bó với một lãnh thổ, kể cả những cộng đồng "săn hái" (lãnh thổ của họ rộng hơn lãnh thổ của người trồng trọt). Ý thức cộng đồng và ý thức lãnh thổ đưa đến tâm lý luôn sẵn sàng loại trừ những kẻ "khác lạ" mà họ có thể gặp.

Mặt khác, cộng đồng người hoang dã, như đã nói, gắn bó với tình trạng tự túc mà họ đạt được qua tài nguyên dồi dào và sự sản xuất đồng nhịp với nhu cầu. Sản xuất dư thừa rõ rệt là không cần thiết (không lợi gì cho chủ thể sản xuất), sẽ nhanh chóng biến mất vì liền bị tiêu thụ bởi toàn thể cộng đồng. Trong tinh thần ấy sự chiếm đoạt đất đai cũng không cần thiết, và người ta gần như không thấy những cuộc chiến tranh xâm lược. Hệ quả là một khuynh hướng phân tán, thay vì kết hợp, tụ hội, bằng chinh phục, bành trướng lãnh thổ.

Tổng thể đồng nhất:

Clastres (7) khẳng định: 

"Cộng đồng người hoang dã vừa là một tổng thể, vừa là biểu hiện của đồng nhất. Tổng thể hoàn chỉnh trong tự lập, tự túc, đầy khả năng bảo tồn những đặc tính tự tại ấy như một xã hội được coi như tròn đầy, hoàn hảo. Và đồng nhất, vì không chấp nhận cách biệt, bất bình đẳng, vong thân, trong nội bộ".

Xã hội ấy không có người cai trị và người bị cai trị. Nó từ chối một nhân vật tách ra đại diện cho nó, tự coi mình như biểu tượng của sự đồng nhất của nó. Người đứng đầu cộng đồng không có quyền hành, không cai trị, chỉ có lời nói: lời nói của cộng đồng. Luật lệ không ai làm ra mà đến từ tổ tiên được thần thoại hóa. Xã hội ấy không quan tâm đến tiến bộ, vì tự cho là nó đã hoàn hảo. Nó gắn bó với một lãnh thổ và "chăm chỉ" loại trừ kẻ "khác lạ". Chính những kẻ "khác lạ" ấy, tức những cộng đồng mà nó có thể gặp gỡ (mặc dù khoảng cách xa xôi - như đã nói), là những đối tượng cần thiết cho năng lực tự tồn của nó. Xã hội hoang dã coi những cộng đồng "khác lạ" kia như những thực thể tuyệt đối "cách biệt" với họ và là biểu tượng của "bất toàn" (vì chỉ xã hội của họ là hoàn hảo). Những cộng đồng "khác lạ" ấy được hình dung như có khả năng "cai trị" họ, áp đặt những luật lệ khác với luật lệ của họ, bắt họ "trở thành" kẻ khác (điều kiện của tiến bộ, mà họ không quan tâm).

Đương nhiên là xã hội đối nghịch cũng chia sẻ những ý nghĩ tương tự về họ. Sự căng thẳng thường trực chỉ chờ một duyên cớ nhỏ nhặt để bùng nổ. Chiến tranh, như thế, là một khuynh hướng tiềm tàng, luôn hiện hữu, mặc dù không phải lúc nào cũng biểu hiện trong thực tế. 

"Chiến tranh là một cấu trúc của xã hội hoang dã, chứ không phải sự thất bại tình cờ của đổi chác." (7)

Đồng minh, hòa bình và trao đổi:

Vấn đề đặt ra khi quan niệm chiến tranh như một thường định của xã hội hoang dã là sự hiện hữu của những liên minh, trong đó hòa bình và trao đổi hiện diện một cách đương nhiên. 

Thật ra, sự thường định của chiến tranh bắt buộc một xã hội phải có những đồng minh để không bị tiêu diệt khi phải xung đột cùng lúc với quá nhiều đối phương. Và vì không có đồng minh vĩnh viễn, người ta tìm đến những trao đổi mang tính ràng buộc mạnh nhất, là... phụ nữ. Khi phát động một cuộc chiến tranh, không gì cần thiết bằng sự trợ giúp hay ít ra là sự trung lập của các bộ lạc lân cận. Và người ta sẽ an tâm hơn rất nhiều nếu đó là bộ lạc của anh rể, em rể, hay bố vợ của mình.

Đồng minh, hòa bình và trao đổi, với các phiên bản của chúng, trở thành những phương tiện của chiến tranh.

Sự cáo chung của xã hội hoang dã:

Chiến tranh thường đưa đến sự phân định kẻ thắng người bại. Không thể tưởng tượng tất cả các kẻ chiến bại đều biến mất khỏi môi trường của người hoang dã. Nhận xét này hình dung một sự phân chia, cách biệt, phản lại lý tưởng tổng thể đồng nhất của họ. 

Chiến tranh thường trực tiềm tàng trong xã hội hoang dã cũng có thể đưa đến sự hình thành và phát triển của giai cấp chiến binh, dần dần tự tổ chức, và trở thành cách biệt với các thành viên khác. Thêm một mâu thuẫn với lý tưởng tổng thể đồng nhất.

Xã hội hoang dã phản ứng ra sao trước các mâu thuẫn nền tảng này? Làm thế nào để hiện tượng "kẻ thắng người bại" không đưa đến ý thức người cai trị và kẻ bị trị? Và khi kẻ có quyền đề ra pháp lý, bắt buộc người bị trị phải tuân phục, như một sự chối bỏ pháp lý của tổ tiên họ, thì làm sao để mầm mống phân hóa không lớn mạnh? Giai cấp chiến binh sẽ đối xử ra sao với những "anh em" chống lại sự cách biệt của họ? Tài nguyên của xã hội sẽ phân phối ra sao trước những phân cách này? "Mô hình sản xuất" sẽ được tổ chức lại như thế nào?

Dần dần khó mà cưỡng lại khuynh hướng đi đến tổ chức quyền hành, tức sự hình thành của Quốc Gia. Và, khi Quốc Gia hình thành, thì xã hội hoang dã cáo chung...

Chấm dứt chiến tranh thường trực

Sự hình thành của Quốc Gia cũng chính là sự chấm dứt của tình trang chiến tranh thường trực. Quốc gia mang khuynh hướng nắm độc quyền bạo lực, chống lại bạo lực phổ quát trong xã hội (8), và điều tiết bạo lực "bên ngoài" dựa trên ý muốn riêng của nó (sẽ bàn).

Quốc gia mang tham vọng hòa bình trong sự cai trị của mình. "Bát điều mục" của sách Đại Học dẫn đến "trị" và "bình", đi từ "quốc" đến "thiên hạ" (= mọi sự dưới trời), thể hiện lý tưởng hội nhập, kết hợp (9), trái với khuynh hướng phân tán nơi người hoang dã như đã nói ở trên.

Để minh họa, một tài liệu khảo cổ đáng chú ý ghi lại rằng: trước những bộ lạc không ngừng đánh giết nhau quanh biên thùy của họ, chính quyền Incas tự cho mình bổn phận duy trì hòa bình bằng cách đánh dẹp và hội nhập các bộ lạc ấy vào đế quốc (7). Cách đây 20 thế kỷ, lý tưởng Pax Romana cũng mang tham vọng kết hợp càng nhiều dân tộc càng tốt dưới sự cai trị của chính quyền La Mã, để có được một nền hòa bình trường cửu.

Như thế, xã hội hoang dã, tự định nghĩa như tổng thể đồng nhất, không phân chia, cách biệt, với ưu tư chiến tranh thường trực, mang khuynh hướng phân tán, loại trừ, chính là sự đối nghịch với Quốc Gia, được định nghĩa như một tổ chức quyền hành, có trật tự thứ bậc, phân định giai cấp, với tham vọng hòa bình, kết hợp, hội nhập không hạn chế (biên giới chỉ có tính giai đoạn, dựa trên tương quan lực lượng).

Dư âm cho đến thời hiện đại:

Người hoang dã để lại nhiều ấn tượng về bạo lực và chiến tranh trong tâm lý loài người cho đến ngày nay, cùng với những "dư âm" khác trong vô số lãnh vức của cuộc sống (như nướng thịt khi đi chơi dã ngoại...). Sau thời hoang dã, không cần đến những lý do kinh tế, dành dựt tài nguyên... người ta vẫn có thể gây chiến tranh bên ngoài chỉ để củng cố sự đoàn kết trong nước, hoặc khơi dậy bạo lực, có khi đi đến diệt chủng, chỉ vì kỳ thị, muốn loại trừ kẻ "khác mình", hay bị lôi cuốn bởi khuynh hướng phân tán, ly khai, mà tạo nên nội chiến tương tàn... 

Nói chung từ khi ra khỏi thời "hoang dã", loài người vẫn không ngừng nghĩ đến chiến tranh, đến sức mạnh quân sự, như được thấy trong những phát biểu thường ngày kiểu "hùng cường" hay "giàu mạnh"... khi nói về sự tốt đẹp của một quốc gia. Thậm chí khi ước vọng hóa bình, người ta cũng nghĩ ngay rằng "phải sửa soạn chiến tranh" (Si vis pacem, para bellum - câu của Vegetius, trở thành ngạn ngữ). 

Nguyễn Hoài Vân 

Chú thích 
(1) Maurice Davie: La guerre dans les sociétés primitives et son rôle dans l'évolution- Payot – 1931 
(2) D.R.Gross: Protein capture and cultural development in the Amazone bassin - American anthropologist 77,1975. 
(3) M.Harris - the Yanomano and the causes of war in band and villages societies - Brazil: Anthropological Perspectives - NY - Columbia University Press - 1979
(4) M. Sahlins: Age de pierre, âge d'abondance. Economie des sociétés primitives - Gallimard 1976. 
(5) J. Lizot: Population, ressources et guerre chez les Yanomami. 
(6) C.L.Strauss: Structures élémentaires de la parenté - PUF – 1949 
(7) Pierre Clastres: Archéologie de la violence - Libre (1977) và Mikros (2014) 
(8) Về tính phổ quát của bạo lực, Tacite, trong sách La Germanie - viết năm 98, kể lại rằng các dân "hoang dã" Germains, kéo cả gia đình, vợ con, cha mẹ... ra trận, cùng tham gia vào cuộc chiến, người trực diện đánh nhau, kẻ đứng sau ném tất cả những gì tìm được vào đối phương, kẻ khác tiếp tế, hò hét cổ vũ... Tacite cho là chữ Germain mang nghĩa "người chiến tranh" - (War + Men, với War thành Guerre, "w" thành "gu" như william thành guillaume).  
(9) Cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ (Khổng Tử - Đại Học)

Người gửi:  
Tiêu đề:  
Email:  
Ý kiến:  

CÁC BÀI KHÁC

Bầu cử quốc hội tại Nga (1995)
D E M O C R A Z Y trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp 1995
Đối thoại giữa một cán bộ CSVN và một người quốc gia tự nhận là chân chính tại một địa điểm ở hải ngoại
Suy nghĩ về một nền tảng tư tưởng
Société civile nên dịch là xã hội công dân
Trang hiện tại: 1   Chuyển tới   [1]   2   3   4   5   6   7   8   9   10  Kế tiếp
In trang Phản hồi Gửi mail cho bạn bè Đầu trang
BÀI MỚI NHẤT
° Chiến Tranh - Một số nguyên nhân qua vài thí dụ tiêu biểu
° Thiền quán thời Cổ đại Hy Lạp và La Mã nhìn bởi một người Việt Nam :
° Sự vô ích của việc dời đổi nơi chốn để chữa lành tâm trí - Seneque
° Trút bỏ cái tôi và đời sống vĩnh cửu - Lucrèce (98-55 TCN)
° Putin trong tiến trình biện chứng
° Phú Hữu của các xã hội
° Nguồn gốc chiến tranh từ xã hội hoang dã đến khi hình thành quốc gia
° Đối đầu giữa Locke và Leibnitz - Duy nghiệm và Duy lý
° Hàng hóa và giá cả - Marx
° Hữu thể thì hiện hữu, còn Vô thể thì tuyệt nhiên không ?
° Cảm Nhận, Biết, Hiểu, Cảm Xúc và Trực Giác trong tinh thần chính danh
° Dân chủ không tự do (démocratie illibérale)
° Người xưa tiễn bạn - Thơ Lý Bạch
° Thánh Kinh nguyên thủy không có ý niệm linh hồn
° Ý thức như cầu vòng : thực có hay ảo tưởng ? Keith Frankish
° Triết học Tinh Thần và hàng rào vật lý
° Tha nhân và hiện hữu - Merleau Ponty
° Một cách đúng nghĩa, không thể là phụ nữ
° A Di Đà là gì ?
° Vấn đề Kekule : Nguồn gốc của ngôn ngữ và vài suy nghĩ về vô thức - Theo Cormac Mc Carthy
° Caligula - Kịch của Camus
° Rơi ngã - Tiểu thuyết của Albert Camus
° Aliénation : từ Tha Hóa đến Vong Thân
° Giấc mơ của một người lố bịch - Dostoiesvki
° Hố sâu giữa các thế hệ
Copyright by nguyenhoaivan.com - All right reserved.
Email: nghoaivan@wanadoo.fr